Đào Lôi nhân vật lịch sử Hải Phòng trong Kháng chiến chống Tống lần thứ hai

Xung quanh nhân vật Đào Lôi Công hay Đào Văn Lôi con ông Đào Mộc hay Đào Cam Mộc theo các thông tin sau:

1. Đào Lôi nhân vật lịch sử Hải Phòng trong Kháng chiến chống Tống lần thứ hai

Đào Lôi, theo thần phả Lôi Công thần từ của đền Vân Tra, ở trang Vân Tra, huyện An Dương, phủ Kinh Môn (thôn Vân Tra, xã An Đồng, huyện An Dương). Thân phụ của ông là Đào Cam Mộc, nguyên quán ở Kim Nhan, châu Hoan (nay là Thanh Chương, Nghệ An), vị quan khai quốc công thần triều Lý; thân mẫu là bà Đỗ Thị Uyển, con gái một danh gia vọng tộc của trang Vân Tra.

Thuở thiếu thời, Đào Lôi được nuôi dạy ở quê mẹ. Ông là người thông minh, mẫn tiệp, học một biết mười, tài kiêm văn võ. Đời vua Lý Thái Tổ, ông giữ chức Đô đài lang, năm Quý Sửu (1013), ông được phong chức Tiền Kim ngô tướng quân. Khi xảy ra loạn “ba vương”, ông cùng với Lê Phụng Hiểu, Lý Nhân Nghĩa đánh dẹp “ba vương”, đưa Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi vua. Do đó, ông được phong chức Tả phúc tâm. Năm Canh Ngọ (1030), ông được cử đi dẹp loạn ở hai châu Hoan, Ái, ông phủ dụ dân yên. Năm Quý Mùi (1043), ông theo vua thân chinh đi đánh quân Xiêm xâm phạm vùng biển Đại Ác, Tư Khách… được giao chức Thần vũ Thượng tướng quân. Sau khi thắng trận, ông được phong chức Thái úy, tước Thành Quốc công. Khi Nùng Trí Cao dựa vào vùng động Vật Ác làm phản, ông được vua giao cùng Thái úy Quách Thịnh Dật đi đánh dẹp.

Vì có công phủ dụ người thiểu số nên ông được thăng Thái bảo Lĩnh Quốc công. Khoảng niên hiệu Long Chương Thiên Tự (1066 - 1067), Đào Lôi xin về trí sĩ, nhà vua ân chuẩn và cho ông mở phủ đệ ở Vân Tra, thỉnh thoảng vua ngự về thăm hỏi. Khi triều đình có việc, vua thường mời ông về triều hoặc sai sứ về hỏi. Khi trí sĩ, ông mở trường dạy học, sĩ tử theo học rất đông, có tới 200 người thành tài. Môn sinh tôn ông là Vân Am Phu tử. Khi quân Tống sang xâm lược, vua Lý Thánh Tông triệu ông hồi triều, mặc dù tuổi già nhưng ông vẫn xin ra trận.

Sau khi thắng trận, ông về Kim Nhan và hóa tại đây. Được tin, vua cho tạc tượng ông để phụng thờ và ban sắc phong ông là phúc thần1 . Ông là thành hoàng của các làng Vân Tra, Đồng Giới Tây, Đồng Giới Đông, huyện An Dương. An Tấn, người trang Cựu Điện (Nhân Hòa, Vĩnh Bảo) và bốn anh em Hoàng Uy, Hoàng Tế, Hoàng Thiện, Hoàng Trinh Nương ở trang Dưỡng Chân (thôn Dưỡng Chính, xã Chính Mỹ, Thủy Nguyên), Nguyễn Hùng ở trang Trịnh Xá (Thiên Hương, Thủy Nguyên)… cũng đã tham gia chiến đấu chống quân Tống.

Trích Lịch sử Hải Phòng

ĐÌNH – CHÙA VÂN TRA
(Di tích Lịch sử - Nghệ thuật cấp quốc gia)

    Đình Vân Tra, xã An Đồng, huyện An Hải (nay là huyện An Dương), thành phố Hải Phòng là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ, có quy mô tương đối đồ sộ và được bảo quản khá nguyên vẹn, chắc chắn.

    Đình Vân Tra tôn thờ, tưởng niệm Đào Lôi Công, trang liệt tướng thời nhà Lý (1010-1226). Bản thần tích ngọc phả Thành hoàng bị thất truyền từ lâu, Nhân dân chỉ còn nhớ thánh làng mình tên là Lôi Công. Người đầu tiên viết về thánh tích Lôi Công là Nhà sử học Ngô Đăng Lợi. Thân phụ Đào Lôi Công là Đào Mộc, nguyên họ Nguyễn, quê gốc ở Hoan Châu; thân mẫu là Thị Uyển, người phường Vân Tra, huyện An Dương. Năm 24 tuổi đi thi đỗ đầu, được sung chức Hàn lâm học sỹ, thăng dần đến chức Phủ úy Sơn Hóa, Lạng Giang, sau được vua Lý Thái Tổ triệu về triều, cho giữ chức Đô đài lang. Năm Quý sửu, niên hiệu Thuận Thiên thứ 4 (1013) đã có công dẹp giặc Man; tiếp tục phò ba triều vua nhà Lý dẹp yên quân Chiêm, bình được Nùng Trí Cao làm phản. Khi giặc Tống sang xâm lược, phụng mệnh vua Lý Thánh Tông, ông lại đem quân đi dẹp. Khi ông hóa, vua Lý Thánh Tông phong tặng “Lôi Công thượng đẳng thần” và sai lập miếu thờ tại nơi ông hóa. Dân Vân Tra cảm nhớ công đức cũng sửa sang nhà cửa của ông, dựng thần hiệu để thờ, truyền từ đời này sang đời khác. Như vậy, đình Vân Tra thờ thành hoàng là vị anh hùng có công với nước, với dân - từ việc mở đất lập làng cho đến đánh đuổi giặc ngoại xâm, âm phù trừ họa cho dân.

    Đình có cấu trúc hình chữ Tam, quay hướng Đông Bắc. Qua hàng chữ Hán khắc nổi trên câu đầu tòa tiền đường của đình và trí nhớ của các bậc cao niên trong làng thì đình Vân Tra hiện nay được dựng vào năm Bảo Đại cửu niên (1934) cùng với thời gian dỡ bỏ đình nhỏ lấy vật liệu về xây dựng chùa. Đình được xây dựng trên khu đất “đắc địa” có thế “mãng xà đuổi cóc”. Gò đất đình tọa lạc nằm ở phía Đông Nam thôn Vân Tra, mang hình đầu rắn, còn đuôi rắn là khu vực chùa Vân Tra hiện nay. Kiến trúc chính gồm 3 tòa nhà, bố cục kiểu chữ Tam, nhưng số gian mỗi tòa kiến trúc có khác nhau.  Các tòa nhà có bộ mái kê sát nhau tạo chiều sâu cho nội thất bên trong, tọa thành thế liên hoàn thuận lợi cho việc thờ cúng, bài trí đồ vật.

    Nhìn chính diện, 5 gian tiền đường xây kiểu tường hồi bổ trụ, giật tam cấp. Tòa kiến trúc thứ 2 (3 gian): Nối liền với tòa tiền đường bằng mái hiên sát nhau cùng hệ thống tường hồi xây kín bằng gạch Bát Tràng cổ cỡ 22 x 57 cm hoặc 52 x 22 cm, dày 6 cm. Tòa kiến trúc thứ 3 khác hẳn với hai tòa trên, được kết cấu thành hai gian. 3 vì kèo gỗ vuông góc với kết cấu, bộ khung gỗ của tòa kiến trúc thứ 2, vì kèo chính cấu tạo kiểu “trụ chồng đốc thước”. Ngoại trừ tòa kiến trúc thứ 2 và 3 được kết cấu theo lối “bào trơn, đóng bén”; các bộ phận chủ yếu như câu đầu, chồng rường và gốc thước đến các vị trí xà nách đều để trơn. Trang trí của đình Vân Tra chủ yếu dồn vào đặc tả tại 5 gian tiền đường với đủ loại thức trang trí quen thuộc, kỹ thuật chạm bong trên gỗ tinh xảo.

    Loại đình cấu trúc kiểu chữ Tam liên hoàn, lại mang trên mình khá nhiều các loại vật liệu như gạch Bát Tràng cổ, mái của ba tòa kiến trúc còn tận dụng khá nhiều viên ngói cổ của công trình cũ; cho phép nghĩ về niên đại xa hơn của di tích (khoảng cuối thế kỷ XVII); mặc dù chữ ghi thời gian tu tạo gần nhất vào năm Bảo Đại thứ 9 (1935).  Khu cảnh quan phía trước di tích, ngoài hồ nước trong xanh, sót lại duy nhất một cây bàng cổ thụ.

    Những di vật đáng quan tâm:
    1. Hương án gỗ: 02 chiếc, dùng bày đặt các hiện vật thờ tự.
    2. Bát hương thờ: 02 chiếc.
    3. Kiệu bát cống: 01 chiếc bằng gỗ vàng tâm, sơn son, thếp vàng rực rỡ, niên đại cuối thế kỷ XIX.
    4. Đại tự: 02 chiếc.
    5. Hiện vật được bảo vệ nơi cung cấm là chiếc bài vị cao 0,9 m, ngang 0,32m đề duệ hiệu, mỹ tự của nhân vật lịch sử được tôn thờ: “Lôi Công Vân Y linh, Phù quốc trợ thuận, phả hóa hoàng loan huệ vận an dân, tế thế tước báu hồng ân đại vương”.
    6. Di tích còn lưu giữ thiếu trọn vẹn một bộ bát bửu, chấp kích thờ bằng gỗ phủ sơn son thếp vàng.
    7. Sắc phong: 03 bản của các vua triều Nguyễn.

    Đình Vân Tra là một trong số các công trình kiến trúc cổ ở Hải Phòng chứng minh cho truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm trong kỷ nguyên văn hóa Lý - Trần ở nước ta nói chung và ở mảnh đất Hải Phòng nói riêng. Bản thân nhân vật được thờ lại là người địa phương nơi di tích tồn tại. Tại di tích hiện còn lưu giữ, bảo quản được nhiều hiện vật có giá trị, niên đại rải rác từ thế kỷ XVII trở đi.

    Xét giá trị lịch sử, không gian, môi trường văn hóa của di tích, đình – chùa Vân Tra đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành Quyết định số 152-QĐ/BT ngày 25/01/1994 công nhận là di tích Lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia.

2. Đào Văn Lôi nhân vật lịch sử của xứ Nghệ

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý có ghi, tháng 11 năm 1029 vua Lý Thái Tông phong Đào Văn Lôi là Tả phúc tâm. Với chức vị ấy, ông là một trong những người gần gũi với vua và có thể tham gia vào nhiều quyết định quan trọng của triều đình. Vậy Đào Văn Lôi là ai? Quê quán ở đâu và sự nghiệp ra sao? Đó hẳn còn là một bí ẩn đối với hầu hết mỗi chúng ta...

(Baonghean) - Trong Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý có ghi, tháng 11 năm 1029 vua Lý Thái Tông phong Đào Văn Lôi là Tả phúc tâm. Với chức vị ấy, ông là một trong những người gần gũi với vua và có thể tham gia vào nhiều quyết định quan trọng của triều đình. Vậy Đào Văn Lôi là ai? Quê quán ở đâu và sự nghiệp ra sao? Đó hẳn còn là một bí ẩn đối với hầu hết mỗi chúng ta...

Tại xã Diễn Kim (xưa gọi là làng Hoa Lũy), huyện Diễn Châu, trước đây có 3 ngôi đền từng được xây dựng và phụng thờ từ mấy trăm năm trước. Sau Cách mạng tháng Tám, vì những thiên kiến của một số người, tất cả những ngôi đền ấy đã bị phá hủy...

Nhà văn Sơn Tùng cho biết, sau khi những ngôi đền ở quê bị phá hủy, một người cháu họ ở quê (con một gia đình trước đây đã trông coi đền Trang ở Diễn Kim) đã gửi ra cho ông giữ 18 đạo sắc phong cho thần làng Hoa Lũy. Và chính nhà văn Sơn Tùng đã nhờ một người bạn là chuyên gia về Hán Nôm dịch toàn bộ 18 sắc phong đó từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ.

Từ bản dịch sắc phong mà nhà văn Sơn Tùng đã cho dịch trước đây, tôi đã nhờ nhà nghiên cứu Chu Xuân Giao ở Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, một chuyên gia trong lĩnh vực này rà soát và biên tập thành một bản dịch hoàn chỉnh hơn. Qua đó, chúng tôi tiến hành phân loại, thì thấy trong 18 đạo sắc trải dài trong 157 năm, đạo sắc cổ nhất là đời Lê Cảnh Hưng năm 28 (tức 1767), đạo sắc gần đây nhất là đời Nguyễn Khải Định năm thứ 9 (tức 1924), trong đó sắc phong cho 3 vị thần.

1. Bản thổ linh quan.
2. Đại vương đô Thái úy Thành Quốc công.
3. Đông hải Thái thú Đại ngư ông.

Tôi và nhà nghiên cứu Chu Xuân Giao đã khảo sát trong các tài liệu cổ, xác minh vị thần được phong Đại vương đô Thái úy Thành Quốc công thờ tại đền Trang - trung tâm của xã Diễn Kim ngày nay, chính là Đào Văn Lôi. Tuy nhiên, trong các tài liệu bằng chữ Quốc ngữ hiện thời ghi khá lộn xộn. Có một số ý kiến cho rằng Đào Văn Lôi là con của Đào Cam Mộc (người được phong Tín Nghĩa hầu dưới thời Lý Thái Tổ, sau khi mất được phong Thái Sư, Á Vương, là một trong những nhân vật quan trọng nhất đưa Lý Công Uẩn lên ngôi).

Tình cờ, tôi đã đọc được ý kiến tranh luận của ông Lương Thế Phiệt (đăng trên Website Hội Nhà văn Việt Nam), ông Phiệt người ở làng Vân Tra (thuộc xã An Đồng, huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng). Ông Lương Thế Phiệt cho biết, vị Đại vương Đô Thái úy Thành Quốc công Đào Văn Lôi hiện được thờ tại đền Vân Tra, là một trong những ngôi đền cổ nhất của Hải Phòng (gần 1.000 năm), đền đã được công nhận là Di tích quốc gia năm 1994. Đào Văn Lôi có quê mẹ ở làng Vân Tra, quê nội ở Nghệ An, cha của Đào Văn Lôi là Đào Mộc chứ không phải là Đào Cam Mộc như một số tài liệu nói.

Nhận được thông tin này, tôi đã liên hệ với ông Lương Thế Phiệt và ông Phiệt hết sức vui mừng viết thư cho tôi nói rằng, từ bao nhiêu năm nay, người làng Vân Tra vẫn chờ đợi một ngày nào đó, sẽ có một người từ quê nội của Thần liên hệ với bên ngoại, nhưng mãi bây giờ mới thấy. Ông Phiệt cũng cho biết, thần tích đền Vân Tra đã được ông Ngô Đăng Lợi, một trong những nhà nghiên cứu lịch sử địa phương của Hải Phòng sơ dịch. Bản chính của thần tích còn được lưu giữ trong Viện Hán Nôm.

Tôi đã liên hệ với chị Đỗ Bích Tuyển, hiện là nghiên cứu sinh, công tác lâu năm tại Viện Hán Nôm Việt Nam. Chị Tuyển đã tìm được và dịch bản thần tích này ra chữ Quốc ngữ. Bản thần tích này do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn bản chính vào niên đại Hồng Phúc (1572-1573), và Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, Nguyễn Hiền sao chép lại ngày mồng 7 tháng 5 năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736).

Nội dung bản thần tích cho biết nhiều nội dung quan trọng về lai lịch: Thần tích kể, cha của Đào Văn Lôi người gốc Hoan Châu, có tên là Mộc, trước có họ Nguyễn, sau đổi thành họ Đào... Mộ của mẹ ông Đào Mộc nằm trên núi Tung Sơn phía Bắc dãy Tản Lĩnh (chúng tôi xác định nơi này có thể thuộc về xã Trung Sơn, huyện Đô Lương ngày nay). Mẹ Đào Văn Lôi là Đỗ Thị Uyển, người làng Vân Tra, thuộc Hải Phòng ngày nay. Sở dĩ có mối lương duyên giữa ông Đào Mộc và bà Đỗ Thị Uyển là vì ông Đào Mộc thời thanh niên rời quê ra Tràng An theo học, nhờ một người bạn đưa về Vân Tra mà nảy nở mối lương duyên. Sau khi ông Mộc và bà Uyển cưới nhau thì họ trở lại Tràng An sinh sống. Đào Văn Lôi được sinh ra năm Đinh Hợi (987) ở Tràng An, và ở đó đến năm 13 tuổi thì cha mất, theo mẹ về Vân Tra sinh sống.

Đào Văn Lôi lúc nhỏ học hành thông tuệ. 24 tuổi, ông đỗ đầu ở Kinh đô, được vào làm ở Hàn Lâm Viện, rồi phong làm Phủ úy Sơn Tây, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang. Vì có tài lại nổi tiếng thanh liêm, yêu dân như con, sau được về kinh phong làm Đô Đài, rồi Bình Chương sự, Nội thị. Có công trong dẹp loạn tam vương nên ông được phong làm Tả phúc tâm. Từ đó về sau, lần lượt được phong làm Trung thư thị lang, Tả tham tri chính sự, rồi Thái úy Thành Quốc công.

Cuối đời, Đào Văn Lôi về thăm quê và qua đời ở núi Kim Nhan (nay là huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An), Vua Lý Thánh Tông đã lệnh cho nhân dân lập đền thờ.

Trong lịch sử xứ Nghệ, Mai Hắc Đế là ông vua sớm nhất nổi lên chống giặc Phương Bắc, còn Đào Văn Lôi có thể là người đầu tiên đỗ đạt và làm quan đến hàng Thái úy, rồi lại được xếp vào hàng Thái Bảo. Đó, hẳn nhiên là một niềm tự hào của người xứ Nghệ, nhưng hàng chục năm nay cũng bị quên lãng.

Sau khi có trong tay bản thần tích, chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế. Đoàn gồm ông Nguyễn Trọng Thể (Trưởng ban Ban Liên lạc đồng hương Diễn Kim tại Hà Nội), anh Chu Xuân Giao và tôi đã vào tận Kim Nhan, thuộc huyện Anh Sơn, rồi đến xã Trung Sơn thuộc huyện Đô Lương (nơi mà chúng tôi xác định là có núi Tung Sơn), những nơi này đền thờ cũ đã bị phá hết. Chúng tôi lại đến xã Nghi Thái (thuộc huyện Nghi Lộc) - một địa danh mà theo cuốn Di sản hán nôm Việt Nam xác định là có thờ Đại vương đô Thái úy thành Quốc công Đào Văn Lôi. Ở đây, ngôi đền cũng bị phá, chỉ còn lại một nền đất nhân dân để một bát hương để thắp vào rằm, mồng Một hàng tháng.

Chúng tôi cũng đã lập một đoàn vận động xây dựng lại đền Trang tại xã Diễn Kim do Ban Liên lạc đồng hương Diễn Kim tại Hà Nội làm nòng cốt, kết hợp với ủy ban nhân dân xã Diễn Kim. Chúng tôi đã lên gặp, trình bày với nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười. Chúng tôi cũng đã làm việc với đồng chí Trần Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, và vào làm việc với đồng chí Phan Đình Trạc, lúc đó là Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An. Ở tất cả những nơi đó, chúng tôi đều nhận được sự ủng hộ của các vị lãnh đạo. Đồng chí Phan Đình Trạc đã về tận xã Diễn Kim thăm lại di tích, nơi đã từng thờ Đại vương đô Thái úy Thành Quốc công Đào Văn Lôi.

Từ cảm thức, chúng tôi cho rằng, sở dĩ phải lập lại đền thờ Đại vương đô Thái úy Thành Quốc công Đào Văn Lôi là vì: Trên quê hương xứ Nghệ (quê nội của thần), một mảnh đất anh hùng và văn hiến, nên có ít nhất một nơi thờ tự một vị anh hùng, một bậc đại trí thức, một bậc đại công thần thời hậu Lý mà từ lâu nhân dân đã phong thánh. Và tôi cũng nghĩ, trong tương lai, trên đất xứ Nghệ nên có một con đường mang tên Đào Văn Lôi.

Năm 2012, nhân kỷ niệm 1025 năm Ngày sinh của Đại vương đô Thái úy Thành Quốc công Đào Văn Lôi, nhân dân Diễn Kim đã chính thức khôi phục lại Lễ hội làng Hoa Lũy và làm một Am thờ Ngài trên nền cũ ngôi đền khi xưa. Trong ngày lễ thiêng liêng đó, nhân dân được đọc lại những sắc phong của các đời vua thời trước phong cho thần.

Trên những tư liệu hiện có, mùa Thu năm 2012, tôi đã viết cuốn sách mang tên Hoa Ưu Đàm lại nở, đó là một cuốn truyện lịch sử về cuộc đời và thời đại của Thái úy Thành Quốc công Đào Văn Lôi, thể hiện dưới dạng một truyền thuyết hiện đại xen giữa hư cấu và lịch sử, giữa hiện thực và huyền thoại.

Mong rằng, mọi người dân xứ Nghệ, dù ở nơi đâu, hãy góp một tấm lòng, để sớm khôi phục lại được ngôi đền khang trang thờ Đại vương đô Thái úy Thành Quốc công Đào Văn Lôi. Con người vĩ đại được phong thánh từ gần 1000 năm trước ấy, mãi mãi là niềm tự hào và niềm tôn kính của chúng ta.

Nhà văn Thiên Sơn - Báo Nghệ An

Danh mục
Đào Lôi nhân vật lịch sử Hải Phòng trong Kháng chiến chống Tống lần thứ hai