Phượng Lâu ở Trung Quốc
- 鳳樓村 (Phượng Lâu thôn) ở Quảng Đông (肇慶市封開縣杏花鎮): Đây là làng cổ, có kiến trúc dân cư thời Thanh (thế kỷ 17-19), thuộc vùng “杏花十二座” (12 đại viện hợp viện cổ). Làng được nhắc đến rõ ràng từ thời hiện đại (khoảng thế kỷ 20), nhưng có dấu tích di cư và định cư từ thời Minh (khoảng thế kỷ 15-16, ví dụ伍氏族譜 ghi伍姓 di cư đến杏花村 năm 1502). Là “革命老區” (vùng cách mạng cũ), nhưng không có ghi chép cổ xưa hơn thời Minh-Thanh. (鳳樓村(廣東肇慶):位於封開縣杏花鎮,是革命老區村,擁有清代古建築群)
- 鳳樓村 (Phượng Lâu thôn) ở Giang Tô (徐州市賈汪區汴塘鎮): Làng nông thôn truyền thống, chủ yếu nông nghiệp, không có ghi chép lịch sử sớm rõ ràng (chủ yếu hiện đại). ( 鳳樓村(江蘇徐州):位於汴塘鎮,以農業種植和土雞養殖為主)
- 王鳳樓鎮 (Vương Phượng Lâu trấn) ở Sơn Đông (德州市平原縣): Là trấn hành chính, được hình thành hoặc đổi tên rõ ràng từ khoảng năm 1965 (khi chia xã lớn thành nhỏ), tên dựa trên làng Vương Phượng Lâu. Không có dấu tích cổ xưa. (王鳳樓鎮(山東德州):平原縣的中心鎮,因王鳳樓村而得名,下轄多個社區。)
- 棲鳳樓胡同 (Thê Phượng Lâu ngõ) ở Bắc Kinh: Tên thay đổi nhiều lần: Thời Minh gọi “門樓胡同” (Môn Lâu ngõ), thời Thanh (Càn Long) gọi “騎鳳樓” (Kỵ Phượng Lâu), đến Tuyên Thống (khoảng 1908-1911) mới định tên “栖鳳樓”. Có thể xuất hiện từ thời Minh (thế kỷ 14-17), nhưng dạng “Phượng Lâu” rõ ràng là từ thời Thanh muộn. (棲鳳樓胡同(北京):曾名「騎鳳樓」,明清時期在東單北大街附近,現為交通節點)
Tổng kết ở Trung Quốc: Tên “鳳樓” thường liên quan đến kiến trúc (lầu các, cung đình) hoặc làng nhỏ, xuất hiện sớm nhất khoảng thời Minh (thế kỷ 15), nhưng không có ghi chép rõ ràng trước đó. Không có bằng chứng địa danh này tồn tại từ thời cổ đại (như Hán, Đường)
Phượng Lâu ở Việt Nam
- Chủ yếu Phượng Lâu (nay thuộc phường Vân Phú, Phú Thọ), nằm ven sông Lô, gần vùng đất Tổ (Đền Hùng).
- Theo truyền thuyết và địa chí địa phương (như sách địa phương chí Phú Thọ, báo chí lịch sử): Tên Phượng Lâu đã tồn tại từ thời Hùng Vương (khoảng thế kỷ 7-3 TCN, hoặc muộn hơn theo sử liệu hiện đại). Làng thuộc bộ Văn Lang thời Hùng Vương, sau thuộc quận Giao Chỉ thời Hán (thế kỷ 1-2 SCN). Có liên hệ với nữ tướng Bát Nàn (một trong các nữ tướng của Hai Bà Trưng, năm 40-43 SCN), sinh ra và lớn lên ở Phượng Lâu, giương cờ khởi nghĩa từ đây.
- Thời Đường (thế kỷ 7-10), thuộc huyện Gia Ninh - quận Tân Xương. Qua các triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn, tên vẫn giữ, thuộc các trấn/phủ Sơn Tây. Đến năm Minh Mệnh 12 (1831) nhà Nguyễn, có thay đổi hành chính nhưng tên Phượng Lâu vẫn tồn tại (sau này là tên cũ của một phần xã Ngọc Thanh, Kim Động, Hưng Yên, nhưng chính là Phú Thọ).
- Là nơi gắn với Hát Xoan (di sản UNESCO), tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, và nhiều di tích thời cổ (như đình Bát Nàn, chùa San Bảo).
Tổng kết ở Việt Nam: Tên Phượng Lâu có nguồn gốc rất cổ, gắn liền với thời kỳ dựng nước Văn Lang (thời Hùng Vương), được ghi nhận từ đầu Công Nguyên (thế kỷ 1 SCN) qua truyền thuyết Hai Bà Trưng, và liên tục tồn tại qua các triều đại.
So sánh: Nơi nào có tên trước?
- Phượng Lâu ở Việt Nam có trước (rất rõ ràng và sớm hơn nhiều). Tên này xuất hiện từ thời kỳ tiền sử - cổ đại Việt Nam (thời Hùng Vương và Hai Bà Trưng, khoảng hơn 2000 năm trước), trong khi ở Trung Quốc, các địa danh “鳳樓” chỉ rõ ràng từ thời Minh-Thanh (thế kỷ 15-19), hoặc muộn hơn.
- Lý do: “鳳樓” trong tiếng Hán cổ thường chỉ kiến trúc (lầu phượng hoàng, cung điện), nên dùng làm tên làng/công trình muộn hơn. Còn ở Việt Nam, tên có thể bắt nguồn từ địa hình (lầu cao ven sông) hoặc truyền thuyết (liên quan nữ tướng, phượng hoàng), và được bảo lưu lâu dài trong hệ thống địa danh Việt.
Báo Phú Thọ: "Từ thuở lập quốc mở làng, Phượng Lâu chạy dọc bờ sông Lô ở phía Đông, phía Bắc giáp Hùng Lô, phía Tây giáp xã Vân Phú, phía Nam là xã Dữu Lâu. Làng rộng 458ha"
Làng Phượng Lâu nổi lên như một nét son trong trang sử Việt Nam ngay đầu Công Nguyên (năm 40-43) hết sức rạng rỡ: Đó là tướng giỏi của Hai Bà Trưng: Vũ Thị Thục Nương giương cao ngọn cờ cứu nước cùng Hai Bà Trưng trên chiến tuyến từ Phượng Lâu xuống Tiên La - Thái Bình, rồi hóa tại đó. Dân Tiên La ân sâu nghĩa nặng thờ phụng đại tướng quân Thục Nương hơn nghìn năm qua.
- Thời Hùng Vương, trang Phượng Lâu thuộc bộ Văn Lang. Thời Hán nằm trong quận Giao Chỉ. Từ thế kỷ 3 đến thế kỷ 5 Phượng Lâu thuộc huyện Gia Ninh - Quận Tân Xương. Sang thế kỷ 6 - thế kỷ 10, Phượng Lâu (huyện Gia Ninh) thuộc quận Phong Châu - Thừa Hóa.
Thế kỷ 13 - thế kỷ 14 Phượng Lâu thuộc huyện Phù Ninh châu Tam Đới, thuộc bộ Đông Đô. Thế kỷ 15 - thế kỷ 16 thuộc trấn Sơn Tây, đến thời Nguyễn đổi tên Trấn thành Tỉnh thì Phượng Lâu thuộc tỉnh Sơn Tây. Năm 1891 tỉnh Hưng Hóa thành lập, Phượng Lâu thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Hưng Hóa.
Năm 1903 tỉnh Hưng Hóa đổi tên là Phú Thọ, từ đó về sau Phượng Lâu qua số lần tách ra, sáp nhập, thay đi đổi lại mới có tên làng Phượng Lâu - xã Phượng Lâu - Việt Trì.
Thời nhà Đường, phái viên quan đô hộ Châu Phong là Cao Biền đến làng Phượng Lâu quan sát xứ Đồng Bịch, cho rằng nơi đó như một con rồng sẽ thịnh vượng, Cao Biền đã yểm xứ Đồng Bịch làm mất thiêng, dân phải dồn về ở tập trung ở ven sông Lô, nên từ làng cổ Phượng Lâu qua nhiều biến động mới có nhà ở thành xóm, trong làng cố định như ngày nay.
Đức Quý Minh, vị tướng của Vua Hùng, khi đi qua nơi nào hoặc về đâu chiêu binh nơi đó lập đền, thờ phụng Ngài. Làng Phượng Lâu hiện vẫn có đền thờ Quý Minh từ lâu đời, cứ ba năm mở hội làng tế Quý Minh long trọng.
Mãi đến thời Lý, làng Phượng Lâu là nơi buôn bán chợ búa trên bến dưới thuyền sầm uất hơn vùng xung quanh nên Phượng Lâu còn mang tên Kẻ Nổi. Thời đại phong kiến, làng Phượng Lâu mang tên chung cho cả tổng: Làng Phượng Lâu, tổng Phượng Lâu (8 làng).
Làng Phượng Lâu đã sinh ra Bảng nhãn Trần Toại đời nhà Mạc đi xứ bị nhà Minh giết, đưa ông về táng tại phía Đông Bắc làng, nay vẫn còn mộ ông xây bằng đá ong, nhân dân thờ phụng cúng giỗ ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm.
Nhìn từ góc độ khảo cổ học, trên địa thế rộng chỉ có làng Phượng Lâu mới là làng nghề gốm sành từ lâu đời, nhân dân mấy thế kỷ biết tiếng: Gốm Kẻ Nổi. Chính làng gốm nổi tiếng Thổ Hà đã đi nhiều nơi tìm đất đạt tiêu chuẩn làng gốm. Họ đi thuyền đến Bến Ngói cuối làng Phượng Lâu khảo sát thấy đất ở đây đạt yêu cầu. Những “kĩ sư” Thổ Hà xin mở lò nung gốm ở Bến Ngói và làm ăn phát triển hàng trăm năm đã mở rộng mãi dài trên 100m lên sát khu đình làng, sinh ra kiện cáo. Cuối thời nhà Lê, nhân dân Phượng Lâu thắng kiện, “đuổi” được họ đi nơi khác, chấm dứt lò nung từ đó.
Thời đó, làng Gốm (nay là Sơn Đông - huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc) đăng cai tiêu thụ đồ gốm cho Phượng Lâu, chở những chiếc cong, chĩnh, chum, vại, lọ... đi bán khắp nơi. Trải qua hơn thiên niên kỷ ven bờ sông Lô làng Phượng Lâu vẫn lộ ra hàng tỉ mảnh sành vỡ do ra lò hoặc xếp đặt chuyên chở cong, chĩnh va chạm vỡ vứt dọc bờ sông thành đống to, dài, cao vài ba mét đã bị phù sa vùi lấp sâu 3-4m.
Trần Thị Mỹ - Triệu Tự (Báo Phú Thọ)