Sự hình thành và phát triển họ Đào ở Việt Nam trước kỳ Thăng Long

Theo Gia phả, họ Đào hậu duệ Đường Nghiêu cư Phượng Lâu (Phú Thọ), Đệ Thập cải chi Long (Long Tộc) cư Thái Bình, Diêm Thành.

Giai đoạn truyền tích theo kết quả nghiên cứu, tham luận hội thảo từ các thần tích, ngọc phả thì họ Đào mở nước như Đào Công Bột là Kinh Dương Vương hay Thánh Tản Viên trong tín ngưỡng, Đào Công Bột có 5 người con là: Đào Cư, Đào Hồng, Đào Trường (Thánh Bạch Hạc), Đào Thạch Khanh (Thánh Tam Giang) và Đào Quý Lân (Lạc Long Quân) là ngũ vị tôn Ông trong tín ngưỡng dân gian,...

Chân dung Thổ Lệnh Đào Trường (Thánh Bạch Hạc) thời Hùng vương mở nước, ảnh do AI tạo

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Đền Tam Giang Bạch Hạc

Thời Hùng vương (Văn Lang): Thánh Bạch Hạc Tam Giang, tên thật là Đào Trường, là con trai thứ ba của ngài Thái Phó Bộ trưởng Đào Bột, sinh ngày 12 tháng 2 âm lịch vào thời Hùng Vương. Ông là vị tướng tài ba, có công lớn đánh bại quân Thục xâm lược, thống lĩnh thủy quân dẹp giặc chỉ trong một trận, đồng thời trấn áp loạn lạc ở Hồng Châu, bảo vệ vững chắc nhà nước Văn Lang. Ông từng giữ chức Thổ lệnh Trưởng quận Sơn Nam, sau được phong Thổ lệnh thống quốc Đại Vương, cai quản thành Phong Châu và trấn giữ thành Bạch Hạc. Ngoài tài năng quân sự, ông còn được dân gian truyền tụng là vị thần y chu du thiên hạ tìm thuốc chữa bệnh cho dân. Ngày nay, Thánh Bạch Hạc được thờ phụng rộng rãi như Thành hoàng tại nhiều đình đền ở Hà Nội và Phú Thọ, nổi bật nhất là đền Tam Giang Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ), với hệ thống thờ tự trải dài khoảng 172 nơi trên cả nước, gắn liền với tín ngưỡng Tứ phủ công đồng.

Âu Lạc - Thế kỉ thứ 3 TCN: Nồi Hầu (hay còn gọi là Đào Nồi, Nồi Hầu) là một nhân vật lịch sử - thời Âu Lạc dưới triều An Dương Vương (Thục Phán). Ông là con trai của ông Đào Hoằng, một thợ làm nồi đất nổi tiếng ở làng Canh (nay thuộc xã Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc). Từ nhỏ, Nồi đã thông minh, giỏi võ nghệ, đặc biệt giỏi vật và được dân làng cử đi thi võ ở kinh đô. Ông đoạt giải cao, được An Dương Vương phong làm tướng, ban tước Hầu, nên gọi là Nồi Hầu. Ông có công giúp vua xây dựng và bảo vệ thành Cổ Loa, huấn luyện quân sĩ, và khi quân Triệu Đà xâm lược, ông đã huy động dân binh kháng chiến. Sau khi nước mất, cả gia đình ông (vợ và hai con trai Đống, Vực) tự vẫn không chịu đầu hàng giặc.

Ảnh chân dung Nồi Hầu (Đào Nồi) tổng chỉ huy quân đội Âu Lạc dưới thời An Dương Vương với nỏ Liên Châu đánh tan quân Triệu Đà

Nồi Hầu được tôn thờ như thành hoàng làng ở một số địa phương như làng Chiêm Trạch (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội), làng Ngọc Chi và miếu Vĩnh Thanh. Đặc biệt, ông còn được coi là tổ nghề gốm (làm nồi niêu đất) ở làng Hương Canh – nơi nghề gốm truyền thống nổi tiếng. Di tích thờ ông thường gắn với truyền thuyết về nghề thủ công và lòng trung nghĩa.

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Đình Vĩnh ThanhĐình Ngọc Chi

Lĩnh Nam - Thế kỉ thứ I SCN: Đào Kỳ (hay còn gọi là Đào Tam Lang), sinh khoảng năm 17 và mất năm 43 SCN, là một vị danh tướng nổi tiếng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Đông Hán. Ông là con trai thứ ba của lạc hầu Đào Thế Kiệt (hay Đào Thế), một hào kiệt yêu nước tại vùng Cửu Chân (nay thuộc Nông Cống, Thanh Hóa), nên được gọi là Đào Tam Lang. Từ nhỏ ông mồ côi cha mẹ, sống tự lập, thông minh, văn võ song toàn, mưu lược xuất chúng.

Chân dung Đại nguyên soái Đào Kỳ thống lĩnh quân thủy bộ, chấn giữ thành Luy Lâu

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Lăng tướng Đào Kỳ

Ông kết duyên với Nguyễn Phương Dung – nữ tướng tài sắc, con gái hào trưởng Nguyễn Trát ở trang Vĩnh Tế, huyện Lang Tài (Bắc Ninh). Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm 40 SCN tại Mê Linh, ông chiêu mộ nghĩa binh tại quê hương Hội Phụ (nay xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội), cùng vợ và hơn 100 người nhà gia nhập nghĩa quân. Ông được Hai Bà Trưng phong Đại nguyên soái (hoặc Đại tư mã, tương đương Tổng tư lệnh), chỉ huy cả hai đạo thủy – bộ binh, lập nhiều chiến công, giúp thu hồi 65 huyện thành, bảo vệ nền độc lập ngắn ngủi tại vùng Đông Ngàn, xây dựng lại thành Luy Lâu của nước ta.

Sau khi khởi nghĩa thất bại, ông cùng vợ hi sinh anh dũng trong trận đánh cuối cùng. Nhân dân tôn thờ ông như Thành hoàng làng, Thượng đẳng thần, lập đền thờ tại nhiều nơi, đặc biệt:

Ông còn được thờ cùng hai anh trai Đào Đô ThốngĐào Chiêu Hiển (ba anh em cùng sinh ngày 10 tháng 2 âm lịch), với khoảng 72 nơi thờ trên cả nước. Đền Hội Phụ (Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội) – nơi thờ chính cùng phu nhân Phương Dung. Đền Lê Xá, Lộc Hà, Mai Hiên và nhiều di tích ở vùng Đông Ngàn – Cổ Loa – Bắc Ninh.

Hổ nha tướng quân Đào Chiêu Hiển (hay còn gọi là Đào Hiển Hiệu), là một trong ba anh em danh tướng họ Đào thời Hai Bà Trưng (thế kỷ I SCN), cùng với anh cả Đào Đô Thống và em út Đào Kỳ (Đào Tam Lang). Theo truyền thuyết và thần phả dân gian, ba anh em sinh cùng một ngày (ngày 10 tháng 2 âm lịch), tướng mạo khác thường, văn võ song toàn, có tài thao lược xuất chúng.

Sau khi Mã Viện mang quân xâm lược lần thứ hai, ba anh em tiếp tục kháng chiến quyết liệt. Ông hy sinh anh dũng cùng hai em trong trận Bồ Lăng (năm 43 SCN) tại ngã ba sông Trường Giang và Ô Giang (nay thuộc Trùng Khánh, Trung Quốc), khi chặn hậu và cản quân Hán.

Giao Châu - Thế kỉ thứ III SCN: Giao Châu mục Đào Hoàng (chữ Hán: 陶璜, tự Thế Anh 世英, mất năm 290 SCN) nổi bật với công trạng chống giặc và cai quản Giao Châu (vùng Bắc Việt Nam ngày nay) vào thế kỷ III SCN.

Ông sinh ra và lớn lên ở vùng Mạt Lăng, quận Đơn Dương (nay thuộc Giang Tô). Ông dẹp loạn ở Giao Châu. Năm 271 SCN, đại thắng, thống nhất Giao Chỉ và Cửu Chân, bắt giết các quan Tấn, khiến toàn Giao Châu về một mối. Ông làm Giao Châu mục (chức vụ cao nhất cai quản châu), kiêm Đô đốc Giao Châu.

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Đền thờ Đào Hoàng hay Nghè Thanh Hoài

Sau khi Đông Ngô bị Tây Tấn diệt vong năm 280 SCN, Đào Hoàng bằng tài ngoại giao ông giữ nguyên vai trò Giao Châu mục. Ông cai trị Giao Châu khoảng 30 năm, mang lại sự ổn định, được sử sách ghi nhận là vị quan có công lớn trong việc trấn giữ và phát triển vùng đất này.

Vạn Xuân - Thế kỉ thứ VI SCN: Đại vương Đào Công Tuấn (còn gọi là Đào Công Tuấn), sinh giờ Thìn ngày 11 tháng 2 năm Giáp Thìn (khoảng năm 524 SCN), mất ngày 15 tháng 10 năm Bính Thìn (khoảng năm 548 SCN), là một vị danh tướng thời tiền Lý (thời kỳ Lý Bí khởi nghĩa chống nhà Lương). Ông quê ở huyện Ý Yên (nay thuộc Nam Định), cha là Đào Huý Thành, mẹ là Hoàng Thị An, gốc gác từ Đồng Lục, Ý Yên.

Ông có tướng mạo khôi ngô, tuấn tú, văn võ song toàn, được vua Lý Nam Đế (Lý Bí) trọng dụng và phong làm Đại vương. Ông có công lớn phò tá vua Lý Bí đánh đuổi quân Lương, góp phần lập nên nhà nước Vạn Xuân độc lập năm 544 SCN, mở ra thời kỳ ngắn ngủi độc lập đầu tiên sau hơn 500 năm Bắc thuộc.

Sau khi ông qua đời, nhân dân tôn thờ ông như Thành hoàng và lập đền thờ tại nhiều nơi, nổi bật nhất là Đền Lang Khê (thôn Lang Khê, xã An Lâm, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) – ngôi đền có từ thế kỷ VI, được trùng tu nhiều lần (gần đây nhất năm 2022). Đền thờ chính cung ông, với các câu đối cổ ca ngợi công trạng. Ông cũng được thờ ở một số nơi khác, gắn với dòng họ Đào nổi tiếng có nhiều danh tướng yêu nước trong lịch sử Việt Nam

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Đền Lang Khê

Tĩnh Hải Quân - Thế kỉ X: Đào Nhuận là danh tướng nổi tiếng thời Tiền Ngô Vương (Ngô Quyền), người có công lớn trong trận Bạch Đằng năm 938, góp phần đánh bại quân Nam Hán, chấm dứt hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam.

Ông quê ở làng Gia Viên (tên Nôm là làng Cấm hoặc Da Viên, nay thuộc phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng). Tổ tiên ông gốc từ Thủy Đường (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay), sau di cư đến vùng đầm lầy sông Cấm vì bị chính quyền phương Bắc ức hiếp. Cha ông làm nghề đánh cá, mẹ đan lưới. Từ nhỏ, Đào Nhuận theo cha ra sông, giỏi bơi lội, am hiểu địa hình sông nước. Khi giặc biển thường xuyên cướp phá, dân làng mời thầy dạy võ, ông tinh thông võ nghệ, sức khỏe hơn người.

Trong trận thủy chiến Bạch Đằng năm 938, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy dân binh và quân sĩ vào rừng lấy gỗ đẽo cọc nhọn, cắm ngầm ở cửa sông để tạo trận địa phục kích. Ông cùng Dương Tam KhaNgô Xương Ngập mai phục hai bên bờ sông, chỉ huy cung binh ở tả ngạn, truy kích tiêu diệt thái tử Hoằng Tháo và quân địch khi chúng sa bẫy. Công trạng của ông được ghi nhận trong các ngọc phả như “Ngọc phả lục Tiền Ngô vương Thiên tử” và thần tích đình làng.

Sau chiến thắng, ông tiếp tục hầu cận Ngô Quyền. Nhân dân tôn thờ ông như Thượng đẳng phúc thần (hay Thành hoàng làng), lập ban phối thờ tại nhiều nơi ở Hải Phòng, nổi bật là: Đình Gia Viên (phường Gia Viên, quận Ngô Quyền), Đình Lương Xâm, đình Lũng Bắc (quận Hải An), Đình Hào Khê (quận Lê Chân),... Tổng cộng khoảng 17 nơi thờ ông trên địa bàn Hải Phòng như: Từ Lương Sâm, Đình Gia Viên, Đình Lũng Bắc,....

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Từ Lương Sâm

Đại Cồ Việt - Thế kỉ X: Đào Liên Hoa Ông được tôn là một trong những trụ cột thời Đinh Tiên Hoàng nhờ tài năng văn võ song toàn, ông được Đinh Bộ Lĩnh tuyển chọn làm tướng và giao trọng trách lớn trong thời kì dẹp loạn 12 sứ quân để thống nhất đất nước.

Sau chiến thắng, Đinh Bộ Lĩnh phong cho ông làm Tây Vị Đại Vương, một trong bốn vị đại vương chủ yếu của triều Đinh (cùng với Nam vị, Đông vị và Bắc vị đại vương)

Ông còn được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc để đại diện triều đình Đinh Bộ Lĩnh trong ngoại giao, trong đó có bài thơ dâng được vua Tống khen ngợi.

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Đình Sủi

Đại Cồ Việt - Thế kỉ X: Đào Ngọc Sâm (hay còn gọi là Đào Ngọc Viết, tên Hán: 陶玉山), là một danh tướng thời nhà Đinh (thế kỷ X SCN), quê ở huyện Nga Sơn (nay thuộc Thanh Hóa), sau di cư đến vùng Cao Duệ (thôn Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cũ, nay thuộc Hải Phòng).

Ông sinh ra trong gia đình có truyền thống võ thuật, cha là Đào Ngọc Hoàn (hay Đào Ngọc Việt), mất sớm. Năm 18 tuổi, ông chiêu mộ hơn 2000 dân binh, luyện tập binh pháp, lập nên lực lượng mạnh. Khi Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng) dẹp loạn 12 sứ quân, ông gia nhập nghĩa quân, được phong làm Tham tán mưu sự thống lĩnh thủy bộ chu doanh đại tướng quân (tướng tiên phong), có công lớn dẹp các sứ quân nhà Ngô (như Đỗ Cảnh Thạc) và thống nhất giang sơn. Sau khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi (968 SCN), ông tiếp tục lập công.

Năm 981 SCN, khi quân Tống xâm lược, ông được Lê Hoàn (Lê Đại Hành) phong làm Phó thống quốc Thượng tướng quân, tham gia đánh bại giặc Tống, bảo vệ độc lập. Sau chiến thắng, ông xin về quê nghỉ ngơi và qua đời vào ngày 13 tháng 3 âm lịch (có nơi ghi ngày 15/3).

Nhân dân tôn thờ ông như Thành hoàngAn Nam Thánh tổ linh ứng Đại vương, lập đền thờ tại nhiều nơi, nổi bật là: Miếu Rồng (thôn Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, Hải Phòng) – nơi thờ chính, có từ thời Đinh, được trùng tu nhiều lần, gắn với truyền thuyết ông được vua Đinh phong tước và sắc phong.

Giai đoạn tiền Đinh-Lê-Lý: Đào Cam Mộc (tên Hán: 陶甘沐, ? – 1015), là danh thần khai quốc nhà Lý, quê thôn Tràng Lang, xã Định Tiến (hoặc quê ngoại Nam Thạch, xã Yên Trung), huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ông mồ côi cha sớm, xuất thân bình dân nhưng thông minh, khỏe mạnh, từng tu học và rèn luyện võ nghệ.

Theo thần tích và một số nguồn dân gian, ông bắt đầu sự nghiệp từ thời nhà Đinh (968-980) với chức huyện lệnh ở vùng quê, lập công bảo vệ biên cương và chống ngoại xâm. Sang thời Tiền Lê, ông được Lê Đại Hành phong làm Cửu Môn Đề Đốc (Chỉ huy Cửu Môn) bảo vệ vua và Kinh thành, khi Lê Đại Hành mất ông làm chức quan Chi Hậu (hầu cận giúp vua Lê Long Đĩnh là con của Lê Đại Hành).

Dưới triều Lê Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh), ông bất mãn với sự bạo ngược của vua. Năm 1009, ông cùng Thiền sư Vạn Hạnh tổ chức cuộc thay ngôi êm thấm, chỉ huy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, chấm dứt nhà Tiền Lê, mở ra triều Lý mà không đổ máu – được xem là công thần đệ nhất.

Sau khi nhà Lý thành lập, ông được Lý Thái Tổ phong Nghĩa Tín hầu (tước cao nhất cho quan khai triều không hoàng tộc), gả con gái An Quốc công chúa, thăng Thiên Đô tiên phong tướng quân, tham gia khảo sát và chỉ huy dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long (1010), xây dựng trang viên Vũ Bị (Hà Nam). Ông giúp ổn định triều chính, mở mang ruộng đất, khuyên dân tương thân.

Nhấp vào link tìm đường đến Di tích Đền Đô, Bắc Ninh, Đền thờ Đào Cam Mộc - Chùa Hưng Phúc

Năm 1015 (Thuận Thiên thứ 6), ông mất tại tư dinh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Vua Lý Thái Tổ truy tặng Thái sưÁ Vương (Thái sư Á Vương) – chức vị cao nhất. Nhân dân tôn thờ ông như Thượng thượng đẳng Tối linh Phúc thần, lập đền miếu tại nhiều nơi: chùa Hưng Phúc, nghè Nam Thạch (Yên Định, Thanh Hóa), đền Cổ Loa (Hà Nội), Võ chỉ đền Lý Bát Đế (Bắc Ninh), miếu Đào Xá (Phú Xuyên, Hà Nội)... với câu đối nổi tiếng: “Sinh vi Lý tướng, tử vi Lê thần”. Ông là biểu tượng trung nghĩa, mưu lược trong lịch sử Việt Nam, góp phần vào dòng họ Đào danh tướng.

Tổng hợp: Quang Phú

Danh mục
Sự hình thành và phát triển họ Đào ở Việt Nam trước kỳ Thăng Long