Đào Trường – vị tướng quân có nhiều đóng góp thời kỳ Hùng Vương

LỜI TỰA

Trong không gian tâm linh của người Việt, tín ngưỡng thờ Thánh không chỉ là sự bày tỏ lòng tôn kính với các bậc tiền nhân, anh hùng, danh thần... mà còn là hình thức gìn giữ ký ức lịch sử và bản sắc cộng đồng. Trải qua bao thế kỷ, các vị Thánh đã trở thành biểu tượng văn hóa sống động, được tôn vinh trong các đình, đền, phủ, lễ hội và truyền thuyết dân gian khắp mọi miền đất nước.

Tuy nhiên, cũng chính trong quá trình lan toả, kế thừa và phát triển đó, không ít trường hợp đã xuất hiện hiện tượng biến đổi tên gọi, tiểu sử, hoặc sự đồng nhất giữa các vị Thánh nhườngng chỗ cho những yếu tố thần kỳ mang tính dân gian – đôi khi là do nhầm lẫn truyền khẩu, đôi khi xuất phát từ nhu cầu địa phương hóa tín ngưỡng, hoặc từ những diễn giải mới trong bối cảnh xã hội hiện đại. Có vị Thánh vốn đã phổ biến trong sử sách và tâm thức dân gian, nay ở một số nơi lại được phụng thờ dưới tên gọi khác, với những chi tiết tiểu sử có phần biến dị hoặc trộn lẫn.

Sự thay đổi này không đơn thuần là một sai lệch, mà còn là một hiện tượng xã hội – văn hóa cần được nhìn nhận, lý giải và đối thoại một cách khoa học, nhân văn. Bởi lẽ, mỗi sự biến đổi đều phản ánh một phần tâm thế, nhu cầu tâm linh, cũng như cách cộng đồng kiến tạo bản sắc trong dòng chảy lịch sử.

Thời kỳ Hùng Vương có một vị tướng Đào Trường có nhiều đóng góp cũng nằm trong quá trình biến đổi với những chi tiết thần kỳ mang tính dân gian đó.

Bài này với mong muốn góp phần làm rõ hiện tượng ấy – không chỉ để nhận diện sự thay đổi, mà còn để gợi mở câu hỏi: Làm thế nào để bảo tồn giá trị nguyên gốc của tín ngưỡng dân gian, đồng thời dung hòa với sự phát triển tất yếu của đời sống tinh thần hiện nay?


THÂN THẾ

Đào Bột vốn nhà dòng dõi, chí khí hơn người, quê ở huyện An Lão, phủ Kinh Môn (nay thuộc đất Hải Phòng). Năm 16 tuổi, ông về kinh dự thi chọn nhân tài được phong chức Thái phó bộ trưởng đất Hoan Châu. Sau nhiều lần đánh dẹp giặc biển, Đào Bột được cử làm Bộ trưởng bộ Hải Dương. Tại đây ông kết duyên với bà Phạm Thị Điểm, sau bà mất ông lấy vợ kế là bà Nguyễn Thị Hương, người huyện Kim Bảng xứ Sơn Nam. Sau bà sinh được 5 người con trai có dung mạo khác thường. Các con được đặt tên lần lượt là: Cư, Hồng, Trường (Trưởng), Thạch Khanh và Lê Lân"[1].

Cả năm người con của Đào Bột đều được chăm sóc dạy dỗ nên sớm trở thành những thiếu niên cường tráng, thông minh. Lúc họ mười lăm tuổi, mẹ qua đời, vài năm sau đất nước bị thiên tai mất mùa liên tiếp, nhân dân đói khổ, giặc cướp nổi lên ở nhiều nơi. Quan quân của triều đình đánh dẹp vất vả mà không được nên vua Hùng phải xuống chiếu cầu người tài cứu nước. Nhận được tin này, năm anh em họ Đào đã về kinh ứng thí, do tài kinh bang nên được tuyển làm tướng và cử đi trấn trị các nơi. Riêng Đào Trường làm Thổ lệnh trưởng cai quản quận Sơn Nam”[2].

SỰ ĐỒNG NHẤT

Theo cục di sản thì có 172 nơi thờ Thổ lệnh Đào Trường qua quá trình biến đổi cách gọi tránh tên huý của nhân dân (mỗi thời kỳ) từ vùng thượng (Đức thánh Bạch Hạc Tam Giang gồm hai anh em Thổ Lệnh và Thạch Khanh) càng đi xuống vùng trung tâm châu thổ hiện thân của đức thánh chỉ còn là Thổ lệnh

  • Tín ngưỡng Bạch Hạc Tam Giang tập trung chủ yếu ở những khu vực trũng hoặc sát Sông Hồng (Hà Nội) bao gồm: Liên Mạc, Tây Tựu, Phúc Diễn
  • Thổ Lệnh: Tránh gọi tên huý nên dân gian tôn thờ quan cai quản đất đai
  • Nam Long lệnh trưởng (Lệnh quan cai quản Trường/Trưởng)
  • Thổ Lệnh trưởng, tên chữ Trung Thành đại vương
  • Quan lớn Đệ tam

[1] Lê Hồng Lý - Phạm Thị Thủy Chung, Những sinh hoạt văn hóa dân gian của một làng ven đô (làng Đăm), Nxb KHXH, HN, 2003, Tr.92-93.

[2] Vũ Tuấn Sán, Di tích và danh thắng Hà Nội, báo Tổ quốc, số 5, 1973.

Bài viết mới
Danh mục
Đào Trường – vị tướng quân có nhiều đóng góp thời kỳ Hùng Vương