NGUỒN GỐC
Về nguồn gốc họ Đào của người Việt, từ thời tiền văn tự cộng đồng dùng âm "Đào" gắn với biểu tượng thực vật hoa đào. và âm "Đào" cũng để chỉ người hoạt động liên quan nghề gốm. Khi có văn tự, âm đào được ký hiệu thành hai biểu trưng: Đào-hoa (桃) và Đào-gốm (陶); đến nay một số chi họ vẫn lưu truyền dòng đào bích – đào phai.
Theo truyền tích thì họ Đào xuất hiện sớm có Đào Tướng quân Cao Sơn Đại vương tại trung tâm khu vực văn hóa dân gian Hùng vương; Thái phó bộ trưởng đất Hoan Châu - Đào Công Bột, kết quả nghiên cứu qua tín ngưỡng, văn hóa dân gian và truyền ngôn của người dân vùng Bình Đà (Thanh Oai) cũng chỉ ra rằng Đào Công Bột là Kinh Dương Vương, với năm người con là Cư, Hồng, Trường, Thạch Khanh và Quý Lân là “ngũ vị tôn ông”. Trong đó Đào Quý Lân chính là Lạc Long Quân.
Tại Bản tổng An Đông - Lệnh tộc lưu truyền nhất bản cũng cho biết thêm họ Đào dòng dõi Đường Nghiêu cư Phượng Lâu, trong đó Đệ Thập (ông Mười) trong Thập nhân Gia cải chi Long, thời kỳ sơ khởi Tiền Cổ Gia qua 27 đời sống thái bình,...
Tiêu Biểu
Tự Thổ Lệnh, con trai thứ ba của Thái phó Đào Công Bột, Ông hàng phục chúa Đạo Đà Giang, thống lĩnh 15 bộ thời Văn Lang triều Hùng Vương, trấn giữ thành Bạch Hạc (Phú Thọ) tuyến phòng thủ Tam Giang.
Với 172 nơi thờ ông trong tín ngưỡng thờ thành hoàng Thánh Bạch Hạc Tam Giang, tiêu biểu tại Đền Tam Giang với danh hiệu Cao Quan Bạch Hạc đại vương. Tại Đình Đa Chất, Đình Đồng Văn, ông được thờ với danh hiệu Trung Thành đại vương, đặc biệt Mẫu Liễu Hạnh được phối thờ cùng tại đình Đồng Văn (Ninh Bình). Tại Đình Đăm thờ ông với danh hiệu Thổ lệnh Đào Trường,...
Cha của ông là Đào Hoằng đã 3 đời sinh sống tại Hương Canh có nguồn gốc từ Tụ Long, Tuyên Quang, năm 25 tuổi, gặp khoa thi tuyển vua Thục chọn ông xuất sắc đỗ danh hiệu Hiếu liêm, được Thục An Dương Vương đích thân ngợi khen và trọng dụng, phong làm quan Tham quan.
Khi giặc Triệu Đà xâm phạm Âu Lạc ông được vua Thục giao cho nỏ thần kim quy cùng 10 vạn hùng binh nhiều lần đánh tan quân Triệu
Ngày nay, tại Đình Ngọc Chi, Miếu Vĩnh Thanh và Đình Vĩnh Thanh là nơi thờ tự ba cha con Ông.
Đại Nguyên soái Đào Kỳ, con trai thứ tư Lạc Hầu Đào Thế Kiệt tại Cửu Chân, Trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ông giữ chức Đại nguyên soái, tổng chỉ huy quân Lĩnh Nam giành lại 65 thành, sau ông cùng bà Phương Dung phụ trách vùng Luy Lâu, lo việc bảo vệ và dạy dân phát triển sản xuất.
Nơi thờ như Đình Lộc Hà, Đền Hội Phụ, Đình Đông Trù, Đình Phúc Xá (đình Bắc Biên), Đình làng Thanh Am, Đình Nhân Trạch (quận Hà Đông),... trong 72 nơi thờ Ông.
Đại vương Đào Công Tuấn (thời tiền Lý, Vạn Xuân, thế kỷ VI) phò Lý Bôn dẹp tướng giặc Tiêu Tư nhà Lương, phía Nam dẹp giặc Chăm Pa xâm lược. Ông vốn là Người có tài thao lược thủy quân, được Lý Bôn phong làm "Tổng thống quân vụ thủy đạo thượng tướng quân", Khi mất Lý Nam Đế phong sắc: "Nam thiên linh ứng tối linh thượng đẳng tôn thần" ở Trang Hữu Vĩnh và Đền Lang Khê
Người hết lòng vì xã tắc cùng Lê Hoàn, Đinh Bộ Lĩnh tham gia ổn định ba triều Đinh-Lê-Lý đến phò tá Lý Công Uẩn lên ngôi gây dựng vương triều Lý thịnh thượng vượng mở ra một triều đại phong kiến tập quyền tổ chức nhà nước khoa học đầu tiên của Dân tộc. Ông được phong Nghĩa Tín Hầu, tước Thái Sư, suy tôn Á Vương.
hoạt động